tháng 11 2019 - toannguyenstock

Huấn luyện và đào tạo thực hành đầu tư chứng khoán trên thị trường thực tế.

Hot

Post Top Ad

Thứ Sáu, 15 tháng 11, 2019

[GÓC NHÌN CƠ BẢN] BÀI 10: NHẬN DIỆN SỚM RỦI RO NHỮNG DOANH NGHIỆP MẤT CÂN ĐỐI TÀI CHÍNH

tháng 11 15, 2019 0
[GÓC NHÌN CƠ BẢN]
BÀI 10: NHẬN DIỆN SỚM RỦI RO NHỮNG DOANH NGHIỆP MẤT CÂN ĐỐI TÀI CHÍNH
Các bạn nghĩ sao về việc doanh nghiệp đi vay ngắn hạn (<1 năm) để tài trợ cho các dự án dài hạn 5 năm, 10 năm…? Chuyện gì sẽ xảy ra khi đến thời hạn thanh toán? Trong khi các dự án còn đang dở dang, chưa tạo ra lợi nhuận thì doanh nghiệp đã phải lo nguồn tiền để trả nợ. Không sớm thì muộn, việc này tiềm ẩn rủi ro rất lớn và đem đến áp lực về khả năng thanh toán cho doanh nghiệp trong tương lai. Vậy làm thế nào để chúng ta có thể nhận biết sớm những doanh nghiệp như vậy? Đây chính là vấn đề cân đối tài chính, hôm nay mình sẽ viết sâu hơn về chủ đề này như các bạn đã yêu cầu trong các bài trước.
Bất kỳ một doanh nghiệp nào để tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh thì đều cần phải có tài sản đúng không nào? Đọc BCĐKT các bạn cũng biết tài sản bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. Tương ứng với tài sản sẽ là nguồn vốn hình thành tài sản như nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn vốn vay hay nguồn vốn chiếm dụng…
Nói một cách đơn giản thì cân đối tài chính (tình hình đảm bảo vốn cho HĐKD) chính là sự cân đối giữa tài sản và nguồn hình thành tài sản (nguồn vốn) của công ty. Chúng ta có thể đánh giá tình hình cân đối tài chính của doanh nghiệp theo 2 quan điểm sau: Quan điểm ổn định nguồn tài trợ và quan điểm luân chuyển vốn. Trong bài viết này mình sẽ nói về quan điểm ổn định nguồn tài trợ trước. Theo tính ổn định của nguồn tài trợ, nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm hai loại: nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn.
Nguồn vốn ngắn hạn là nguồn tài trợ mà doanh nghiệp sử dụng tạm thời vào hoạt động trong một thời gian ngắn nên còn gọi là nguồn tài trợ tạm thời. Nguồn vốn ngắn hạn (nguồn vốn tạm thời) bao gồm các khoản nợ ngắn hạn.
Nguồn vốn dài hạn là nguồn vốn mà doanh nghiệp được sử dụng lâu dài trong quá trình hoạt động. Nguồn vốn này thường xuyên tồn tại ở doanh nghiệp trong một chu kỳ kinh doanh để tài trợ cho tài sản sử dụng vào hoạt động của doanh nghiệp. Vì vậy nguồn vốn dài hạn còn gọi là nguồn vốn tài trợ thường xuyên. Nguồn vốn dài hạn (nguồn tài trợ thường xuyên) bao gồm vốn chủ sở hữu và nợ dài hạn.
Theo cách tiếp cận này, nguyên tắc cân đối tài chính là: Nguồn vốn ngắn hạn thì dùng để tài trợ cho các tài sản ngắn hạn, còn nguồn vốn dài hạn thì dùng để tài trợ cho các tài sản dài hạn.Trong phân tích người ta thường dùng chỉ số Vốn lưu động ròng (VLĐR).
Công thức tính vốn lưu động ròng như sau:
Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn
Hoặc
Nguồn vốn dài hạn – Tài sản dài hạn
Sẽ có 3 trường hợp xảy ra:
Trường hợp 1: VLĐR > 0 (Hình 1).
Doanh nghiệp không những đủ vốn dài hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn mà còn thừa để tài trợ cho các nhu cầu ngắn hạn thể hiện doanh nghiệp có khả năng thanh toán tốt, có thể trang trải cho các khoản nợ ngắn hạn. Vì vậy, đây là trường hợp doanh nghiệp đảm bảo nguồn vốn an toàn.
Trường hợp 2: VLĐR = 0 (Hình 2).
Đây là trường hợp lý tưởng nhất nếu doanh nghiệp thực hiện được theo nguyên tắc này: tài sản ngắn hạn được tài trợ bởi nguồn vốn ngắn hạn tương ứng và tài sản dài hạn được tài trợ bởi nguồn vốn dài hạn tương ứng.
Trường hợp 3: VLĐR < 0 (Hình 3).
Đây là phần mình muốn nhấn mạnh nhất trong bài viết này. Đối lập với cân đối tài chính là “mất cân đối tài chính”. Vậy mất cân đối tài chính là gì? Với trường hợp này, doanh nghiệp đang dùng các khoản vay ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn. Điều này thể hiện doanh nghiệp bị mất cân đối tài chính do tài sản dài hạn có thời gian thu hồi vốn lâu trong khi các khoản nợ ngắn hạn sẽ phải trả trong thời gian sớm hơn. Khá nguy hiểm vì khi hết hạn vay, doanh nghiệp phải tìm nguồn vốn khác để thay thế. Nếu tình trạng này liên tục xảy ra thì sự tồn tại của doanh nghiệp sẽ bị đe dọa, dẫn tới rủi ro mất khả năng thanh toán, có thể đẩy tới tình thế là phải bán tài sản cố định. Tất nhiên một doanh nghiệp sử dụng nợ ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn như là một chiến lược giảm chi phí sử dụng vốn vì vay ngắn hạn thường có lãi suất thấp hơn vay dài hạn. Tuy nhiên, việc này rất rủi ro và chỉ thích hợp với các công ty có đầu ra sản phẩm và dòng tiền ổn định.
Công ty cổ phần Nông nghiệp Quốc tế Hoàng Anh Gia Lai (HNG) là một ví dụ điển hình cho tình trạng mất cân đối tài chính này:
Nhìn vào BCĐKT của HNG, bắt đầu từ giai đoạn 2017 đến nay: Giá trị tài sản ngắn hạn luôn nhỏ hơn giá trị nợ ngắn hạn (Hình 4+5) tức là VLĐR <0, doanh nghiệp phải lấy nợ ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn. Đây là một trong những dấu hiệu của doanh nghiệp bị mất cân đối tài chính. Hơn nữa, HNG duy trì một trạng thái vốn lưu động ròng âm qua nhiều năm, tiềm ẩn những rủi ro cực lớn về khả năng thanh toán trong tương lai. Có thể thấy, trong thời gian gần đây trước áp lực lãi vay ngày càng gia tăng, nhiều khoản nợ đến hạn, áp lực tìm nguồn tiền để trang trải công nợ, HNG liên tục phải bán tài sản: chuyển nhượng toàn bộ vốn góp tại Công ty Đông Pênh, chuyển nhượng Công ty Đông Dương cho Thadi… (Hình 6) để có nguồn tiền mặt giải quyết các nhu cầu cấp bách. Nếu cứ tình hình này tiếp diễn, HNG sẽ luôn ở trong tình trạng bị động về nguồn vốn, mất đi sự chủ động trong các kế hoạch kinh doanh của mình.
Hi vọng qua bài viết này mọi người đã biết cách phân tích tình hình VLĐR để có thể đánh giá phần nào sức khỏe tài chính của một doanh nghiệp. Nếu VLĐR có xu hướng giảm dần và đặc biệt chuyển sang âm lớn thì điều này đang báo hiệu sự xuất hiện ngày càng rõ rệt tình trạng doanh nghiệp bị mất cân đối tài chính. Nếu các bạn muốn tiếp tục tìm hiểu phân tích tình hình đảm bảo vốn theo quan điểm luân chuyển nguồn vốn thì đưa ra ý kiến nhé!
Read More

Thứ Tư, 13 tháng 11, 2019

[ NẾU LÀ BẠN BẠN CÓ DÁM VAY NGÂN HÀNG LS 20%/ NĂM ĐỂ ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU ACB ? ]

tháng 11 13, 2019 0
[ NẾU LÀ BẠN BẠN CÓ DÁM VAY NGÂN HÀNG LS 20%/ NĂM ĐỂ ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU ACB ? ]
Tự nhiên có một doanh nghiệp VĐL 5 tỷ đi vay 1.400 tỷ với lãi suất cắt cổ 20%/ năm để mua 35.2 triệu Cp của ACB?
DN này hàng năm sẽ phải trả lãi 280 tỷ/ năm và nếu chỉ đầu tư mỗi ACB thì ACB sẽ phải trả cổ tức tiền mặt 46%/ năm thì DN này mới đủ trả lãi ( điều này là không tưởng )
Vậy DN này là ai và mua lại ACB với mục đích gì ?
Nhìn vào sơ đồ ở dưới ta có thể thấy Hồng Hoàng là bên đứng ra mua 35,2 triệu CP ACB. Hồng Hoàng vay 1400 tỷ từ SG Asia Credit Limited ( một công ty có lẽ là của VN ) đóng tại thiên đường thuế Caymand Insland. Theo mình hiểu thì Hồng Hoàng hay SG Asia Credit Limited bản chất đều là các SPE ( Special Purpose Entity ) và cùng một chủ.
Do vậy dòng tiền bỏ ra mua CP ACB nó sẽ chỉ là chuyển vòng quanh và con số lãi suất 20% kia cũng chỉ mang tính tượng trưng mà thôi.
Tại sao mình lại nghĩ như vậy. Bởi nếu nhìn xa hơn thì người đại diện trước pháp luật và tổng giám đốc của Hồng Hoàng tên Phạm Thị Khánh Hồng cũng chính là người đại diện của Nghi Lan ( một công ty SPE khác cũng có VĐL 5 tỷ ). Cổ đông lớn nhất nắm 90% Nghi Lan lại là bà Trần Thị Minh Hà chủ sở hữu của cả Bách Thanh. Công ty mà tháng 2/2019 đã làm xôn xao giới đầu tư khi mua lại 1,25% Vốn Điều Lệ của ACB từ Trần Minh Hoàng ( em trai của chủ tịch ACB Trần Hùng Huy )
Trả lời báo chí khi đó, ông Trần Hùng Huy cho biết đây chỉ là việc cơ cấu lại sở hữu và hình thức đầu tư trong nội bộ gia đình, không bán ra thị trường bất kỳ cổ phiếu nào, các thành viên trong gia đình vẫn tiếp tục gắn bó lâu dài và đồng hành cùng ACB.
Như vậy sau khi kiểm tra lại một loạt giao dịch vòng quanh, chúng ta có thể thấy bản chất của giao dịch này đều có liên quan đến gia đình chủ tịch ACB. Và mục đích của việc trao tay số lượng lớn cổ phiếu ACB này mình sẽ chia sẻ kỹ hơn trong Hội thảo Đầu tư giá trị Miễn Phí cuối tuần này 17/11/2019 của Take Profit tại ĐH KTQD Hà Nội !
P/S: Chữ trong hình note vội hơi xấu anh em thông cảm nhé ^^ !
Read More

Thứ Ba, 12 tháng 11, 2019

[GÓC NHÌN CƠ BẢN] BÀI 9: LỢI NHUẬN - DÒNG TIỀN, CON SỐ NÀO QUAN TRỌNG HƠN?

tháng 11 12, 2019 0
[GÓC NHÌN CƠ BẢN]
BÀI 9: LỢI NHUẬN - DÒNG TIỀN, CON SỐ NÀO QUAN TRỌNG HƠN?
Khi phân tích một cổ phiếu, bạn chỉ quan tâm đến BCKQKD để xem doanh thu, lợi nhuận trong kỳ là bao nhiêu? tăng trưởng như thế nào? Hay sâu hơn là BCĐKT để xem cơ cấu tài chính, vay nợ nhiều hay ít? Và bạn xem nhẹ, thậm chí là bỏ qua báo cáo LCTT.
Đừng làm như vậy! Nếu bỏ qua bước phân tích này, bạn sẽ dễ dàng bị qua mặt bởi các báo cáo lợi nhuận đẹp. Doanh thu, lợi nhuận tăng trưởng, hoàn thành vượt kế hoạch luôn mang tính tích cực và tạo tâm lý lạc quan cho nhà đầu tư. Tuy nhiên, điều đó chưa đủ để đánh giá sức khỏe tài chính của một doanh nghiệp nếu bỏ qua yếu tố dòng tiền.
Ở BCKQKD, doanh thu và lợi nhuận sẽ được doanh nghiệp ghi nhận ngay khi bán hàng, kể cả chưa nhận được tiền từ khách hàng. Thực tế, khách hàng sẽ thanh toán cho doanh nghiệp vào 1 thời điểm nào đó, có thể vài tháng, vài năm hoặc không bao giờ. Tương tự, doanh nghiệp mua hàng từ nhà cung cấp, mặc dù chưa thanh toán hết tiền nhưng trong kho đã có hàng, hoặc thậm chí là đã được đem bán. Và có một điều các bạn cần lưu ý là BCKQKD đôi khi rất dễ xào nấu để số liệu trở nên đẹp hơn trong mắt nhà đầu tư.
Còn báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo ghi lại dòng tiền vận động như thế nào? Thể hiện dòng tiền vào và dòng tiền ra của một doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định (tháng, quý hay năm tài chính). Thông qua BCLCTT, chúng ta có thể thấy được trong kỳ doanh nghiệp đã lấy tiền ở đâu và đã chi tiêu, sử dụng tiền vào việc gì. Bất cứ hoạt động nào của doanh nghiệp như mua sắm tài sản, hàng hóa, trả lương cho nhân viên… đều cần phải dùng đến “tiền”. Dòng tiền là “dòng máu” duy trì tất cả các hoạt động sản xuất - kinh doanh, là yếu tố sống còn. Doanh nghiệp có thể báo cáo lợi nhuận hàng năm lên đến hàng trăm tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng cao, nhưng nếu không có tiền trả nợ khi đến hạn, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp có thể bị chủ nợ yêu cầu làm thủ tục phá sản… Bạn đã hiểu vì sao dòng tiền lại quan trọng rồi chứ?
Ví dụ trong 3 năm (2016-2018): Doanh thu và lợi nhuận của Tập đoàn Đất Xanh (DXG) luôn tăng trưởng đều đặn (Hình 1). Tuy nhiên dòng tiền từ HĐKD của DXG liên tục âm (Hình 2). Cụ thể, năm 2016 âm 467,259 tỷ đồng; năm 2017 âm 1.054,110 tỷ đồng và năm 2018 âm 931,754 tỷ đồng,… Điều này cho thấy DXG đang thiếu hụt nguồn tiền cho các hoạt động kinh doanh. Dòng tiền âm từ HĐKD liên tục nhiều năm phải bù đắp bằng dòng tiền từ tài chính, áp lực trả nợ lớn là một trong những lý do khiến giá cổ phiếu DXG giảm mạnh thời gian qua, từ mức 28.000 đồng/cổ phiếu hồi đầu tháng 4/2018 xuống đến 12.000 đồng/cổ phiếu vào đầu tháng 8/2019, trước khi hồi trở lại mức 16.000 đồng/cổ phiếu như hiện tại (Hình 3- đây là giá đã điều chỉnh), bất chấp kết quả kinh doanh tích cực 
Các bạn thử nghĩ xem với một DN sản xuất thì dòng tiền nào là quan trọng nhất? HĐKD, Tài Chính hay Đầu tư ?
Chắc chắn là Dòng tiền từ HĐ SXKD rồi. Vì DN không thể nào phát triển và duy trì nếu chỉ dựa vào dòng tiền từ Tài Chính hay Đầu tư (Mình sẽ viết một bài chi tiết hơn về điều này nếu các bạn quan tâm ^^ )
Trong một bài báo vào tháng Tám năm 1995 của tờ Individual Investor, Jonathan Moreland đã từng nói: “Điều quan trọng là tránh chỉ nhìn vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh mà không xem xét báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Xét cho cùng, công ty sẽ bị phá sản nếu không thể trả được các hóa đơn, chứ không phải vì không có lợi nhuận”.
-Thắm Nguyễn-
Read More

[GÓC NHÌN CƠ BẢN] BÀI 8: "CÓ LỢI NHUẬN NGHĨA LÀ CÓ TIỀN" ĐÚNG KHÔNG NHỈ???

tháng 11 12, 2019 0
[GÓC NHÌN CƠ BẢN]
BÀI 8: "CÓ LỢI NHUẬN NGHĨA LÀ CÓ TIỀN" ĐÚNG KHÔNG NHỈ???
Doanh nghiệp báo cáo lợi nhuận hằng năm lên đến hàng trăm tỷ đồng. Liệu đây có phải là số tiền cuối cùng doanh nghiệp thu được mỗi năm?
Không phải như vậy. Lợi nhuận và dòng tiền trong doanh nghiệp không giống nhau, chúng có thể không tỷ lệ thuận với nhau. Là một nhà đầu tư, bạn cần phải phân biệt rõ sự khác nhau giữa dòng tiền và lợi nhuận bởi trên thực tế, lợi nhuận chưa chắc mang về dòng tiền. Mình cùng nhau phân tích để thấy rõ sự khác nhau này nhé!
Dòng tiền thuần = Dòng tiền vào – Dòng tiền ra
Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí
Nhìn vào 2 công thức này, mọi người sẽ không thấy có sự khác nhau đúng không? Vì nghĩ rằng dòng tiền vào cũng là doanh thu và dòng tiền ra cũng như chi phí. Nhưng sự thật lại không phải như vậy.
Trong quản trị tài chính và hạch toán kế toán, chúng ta phải hiểu bản chất là doanh thu của công ty không phân biệt đã thu được tiền hay chưa. Nhiều trường hợp, bên bán quản lý công nợ không tốt, trên sổ sách kế toán ghi nhận doanh thu lớn, và nếu lấy doanh thu trừ chi phí thì rõ ràng là doanh nghiệp đang làm ăn có lãi (lợi nhuận), nhưng lại không có tiền là vì lợi nhuận đang nằm trong KHOẢN PHẢI THU. Điều này giải thích thực trạng, nhiều doanh nghiệp có doanh thu bán hàng tăng trưởng tốt, thậm chí hợp đồng có giá trị rất lớn, nhưng lại không thu được tiền về.
Tập đoàn Xây dựng Hòa Bình (HBC) là một ví dụ điển hình cho thấy sự khác biệt giữa dòng tiền và lợi nhuận: Nhìn vào BCĐKT tại ngày 30/09/2019 của HBC có điểm đáng chú ý là khoản phải thu ngắn hạn lên đến 11.891 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng lớn và đang tiếp tục xu hướng tăng (Hình 1). Cụ thể, chiếm 84,6% tài sản ngắn hạn và 72,3% tổng tài sản. Trong đó phải thu theo tiến độ kế hoạch hợp đồng xây dựng là 5.130 tỷ đồng. Nguyên nhân là do cách hạch toán doanh thu theo tiến độ của HBC làm đến đâu hạch toán doanh thu đến đó, dù chưa thu được chủ đầu tư nghiệm thu và trả tiền. Và đến giờ HBC vẫn chưa giải quyết được dứt điểm những khoản phải thu với tập đoàn FLC.
Việc giá trị khoản phải thu lớn đã tạo áp lực lên vốn lưu động ròng, tăng nguy cơ nợ khó đòi và Hòa Bình đã phải trích lập dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi gần 388 tỷ đồng. Mặc dù lợi nhuận lũy kế 9T2019 của HBC đạt 243 tỷ đồng nhưng nhìn vào BCLCTT ta có thể thấy, lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh 9 tháng đầu năm nay âm 1.411 tỷ đồng, thậm chí là âm liên tục trong nhiều quý nhiều năm liền (Hình 2). Điều này khiến chúng ta không khỏi nghi ngờ về khả năng tạo tiền từ HĐKD chính của HBC. Đi đến đâu ta cũng nhìn thấy cái tên của Hòa Bình xuất hiện dày đặc trên các công trình xây dựng tại các đô thị lớn, khu nghỉ dưỡng, khu công nghiệp. Đáng lẽ đây là bằng chứng tích cực cho thấy sự phát triển của HBC. Tuy nhiên, thực tế lại đang cho thấy một số dấu hiệu rủi ro cho doanh nghiệp này. Sự lao dốc của cổ phiếu HBC trong thời gian qua là một minh chứng rõ ràng (Hình 3).
Nếu không kiểm soát được dòng tiền tương đồng với doanh thu, không quản lý tốt kỳ hạn nợ của khách hàng thì doanh thu tăng (tăng trưởng) cũng không ích gì đúng không nào? Chính vì vậy, trong quá trình đọc BCTC, chúng ta cần đặc biệt quan tâm tới cả 2 yếu tố dòng tiền và lợi nhuận - 2 chỉ tiêu quan trọng phản ánh sức khỏe cũng như khả năng hoạt động của doanh nghiệp. Hi vọng qua bài viết này mọi người sẽ không bị nhầm lẫn giữa lợi nhuận và dòng tiền của doanh nghiệp nữa nhé!
*** WORK SHOP VALUE INVESTING ***
- Cách phân loại 5 dạng cổ phiếu vàng để đầu tư
- Cùng nhìn lại BCTC Quý 3.2019 của dòng cp Ngân Hàng, BĐS
- Trò chuyện trực tiếp với đội ngũ tư vấn TAKEPROFIT
=>> Nhanh tay để nhận 1 trong 60 vé Free tham dự buổi hội thảo cơ hội đầu tư cuối năm 2019 cùng Take Profit.
- Thời gian: 8h45 - 12h sáng, ngày 17/11/2019 tại Hội trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân, Hà Nội (cổng Giải Phóng).
Link đăng ký: Ace chịu khó kéo xuống dưới comment ^^
-Thắm Nguyễn-
Read More

[GÓC NHÌN CƠ BẢN] BÀI 7: CHIA CỔ TỨC BẰNG CỔ PHIẾU CÓ PHẢI LÀ IN GIẤY CHO KHÔNG?

tháng 11 12, 2019 0
[GÓC NHÌN CƠ BẢN]
BÀI 7: CHIA CỔ TỨC BẰNG CỔ PHIẾU CÓ PHẢI LÀ IN GIẤY CHO KHÔNG?
Trên thị trường ngày càng có nhiều doanh nghiệp thực hiện chia cổ tức bằng cổ phiếu theo các tỷ lệ (*) nhất định. Nhưng mình thấy phần lớn nhà đầu tư cá nhân hiện nay vẫn chưa thật sự hiểu rõ nghiệp vụ này, thậm chí còn có những ngộ nhận nguy hiểm.
Về bản chất, cổ tức bằng cổ phiếu (hoặc thưởng bằng cổ phiếu) chính là nghiệp vụ chia tách cổ phiếu và nó không hề phát sinh bất kỳ dòng tiền mới nào cho doanh nghiệp. Nói một cách nôm na, giả sử với tỷ lệ chia cổ tức 100% (1:1) và bạn đang có 1000 cái bánh lớn, thì nó sẽ biến thành 2000 cái bánh nhỏ hơn sau khi chia cổ tức (thể hiện sự pha loãng về giá trị) nhưng chu vi của cái bánh trước và sau chia thì vẫn giữ nguyên, tức tổng tài sản cũng như vốn chủ không hề thay đổi. Thực chất chỉ là tăng giảm đối ứng về sổ sách giữa các khoản mục nhỏ ở trong vốn chủ sở hữu mà thôi – thông thường khoản mục lợi nhuận sau thuế chưa phân phối, thặng dư vốn cổ phần hoặc các quỹ sẽ giảm đi để bù đắp cho phần vốn điều lệ tăng lên tương ứng.
Ví dụ ngày 4/4/2018, VCS chia cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 100% (Hình 1). Nhìn bảng đối chiếu biến động vốn chủ sở hữu quý II năm 2018 của VCS. Ta thấy khoản lợi nhuận sau thuế chưa phân phối giảm đi 800 tỷ, và phần vốn góp của chủ sở hữu tăng lên 800 tỷ (Hình 2). Nếu chưa tính lãi trong kỳ thì tổng vốn chủ sở hữu không hề thay đổi đúng không nào.
VẬY CÓ PHẢI CHIA CỔ TỨC BẰNG CỔ PHIẾU LÀ IN GIẤY CHO KHÔNG?
Nếu bản chất như vậy thì có phải chia cổ tức bằng cổ phiếu là không mang lại lợi ích gì cho nhà đầu tư? Thực ra cái gì cũng có ưu nhược điểm riêng của nó.
Ưu điểm:
- Tác động đến tâm lý nhà đầu tư
Như các bạn đã biết, khi thực hiện việc trả cổ tức thì sẽ làm giảm thị giá của mỗi cổ phiếu, đây là cách tạo cầu tâm lý, thu hút được nhiều cổ đông hơn vì nhiều nhà đầu tư chỉ thích mua những cổ giá rẻ hơn là những cổ phiếu đắt.
Ví dụ như VCS: Nhờ kết quả kinh doanh tăng trưởng tốt, cổ phiếu này chạy không ngừng nghỉ từ năm 2014 (Hình 3). Đến năm 2018, giá trên sàn giao dịch khoảng 260 nghìn đồng/cp, là một trong những mã cổ phiếu có thị giá thuộc Top cao nhất sàn chứng khoán Việt Nam. Sau đợt chia cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 1:1 và một số lần chia cổ tức bằng tiền mặt khác thì giá đã được điều chỉnh về vùng 120 nghìn đồng/cp (Hình 4). Có thể thấy mức giá này đã hấp dẫn hơn so với mức giá ban đầu trong mắt nhà đầu tư, tạo cơ hội tiếp cận tới nhiều nhà đầu tư khác, có thể dễ dàng mua cổ phiếu này hơn.
- Tăng tính thanh khoản
Việc ảnh hưởng tiêu cực hay tích cực của việc chia cổ tức loại này cũng phụ thuộc rất nhiều vào tình hình thanh khoản của cổ phiếu công ty. Đối với cổ phiếu ít thanh khoản thì trả cổ tức bằng cổ phiếu sẽ làm tăng tính thanh khoản cho thị trường, tăng khả năng thanh khoản giao dịch, làm giảm rủi ro. Với các nhà đầu tư việc một công ty có các tiềm năng phát triển trong dài hạn thì việc họ trả cổ tức bằng cổ phiếu đồng nghĩa với việc các nhà đầu tư khác có thêm cơ hội để đầu tư vào công ty và gia tăng lợi nhuận theo kì vọng của họ.
- NĐT tránh bị đánh thuế 2 lần
Đây là một điểm lợi thế hơn so với việc chia cổ tức bằng tiền mặt. Vì thuế cổ tức 5% chỉ áp dụng cho cổ tức trả bằng tiền mặt, không áp dụng đối với cổ tức trả bằng cổ phiếu.
Nhược điểm:
- Không tạo thêm dòng tiền cho Doanh nghiệp:
Bởi bản chất Doanh nghiệp không có thêm dòng tiền khi trả cổ tức bằng cổ phiếu. Mà trả cổ tức bằng cổ phiếu chỉ là thực hiện một số bút toán điều chuyển các khoản mục trong VCSH như mình đã nói ở trên.
- Pha loãng giá trị trên mỗi cổ phần.
Nhiều cổ phần hơn đồng nghĩa với việc lợi nhuận trên mỗi cổ phần cũng bị suy giảm. Đây là lí do vì sao nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffet chỉ thích mua những DN có cổ phiếu cô đặc.
Hi vọng qua bài viết này, mn sẽ có cái nhìn đúng đắn hơn về cổ tức bằng cổ phiếu. Tránh những TH “chia cổ tức bằng cổ phiếu tưởng là lợi mà lợi chẳng còn” nhé 
-Thắm Nguyễn-
Read More

[GÓC NHÌN CƠ BẢN] BÀI 6: CỔ TỨC CÓ ẢNH HƯỞNG GÌ NẾU BẠN LÀ NHÀ ĐẦU CƠ?

tháng 11 12, 2019 0
[GÓC NHÌN CƠ BẢN]
BÀI 6: CỔ TỨC CÓ ẢNH HƯỞNG GÌ NẾU BẠN LÀ NHÀ ĐẦU CƠ?
Bạn là một nhà đầu tư ngắn hạn và bạn thường xuyên săn những doanh nghiệp có tỷ lệ chi trả cổ tức cao. Thậm chí đón đầu bằng cách soi kế hoạch trả cổ tức của các doanh nghiệp đó, rồi mua vào và chờ ngày chốt lãi ngay sau khi được chốt quyền nhận cổ tức. Và nghĩ rằng mình đã được lãi ngay khoản cổ tức được chia đó?
Nếu bạn đang nghĩ như vậy, thì bạn đang hiểu lầm nghiêm trọng về khoản cổ tức mà doanh nghiệp “tri ân” cho cổ đông này.
Dưới góc nhìn toán học: Chia cũng như không chia.
Vẫn còn rất nhiều người ngộ nhận rằng chia cổ tức thì tài sản của họ sẽ tăng lên. Nhưng thực tế thì trả cổ tức bằng tiền mặt hay bằng cổ phiếu đều khiến giá bị giảm trừ tương đương với tỷ lệ cổ tức được chia vào ngày giao dịch không hưởng quyền.
Trường hợp: Chia cổ tức bằng cổ phiếu
Bạn sẽ thấy số cổ phiếu trên TK của mình tăng lên và nghĩ đó là khoản lợi được chia. Thật ra chỉ là ảo giác. Ví dụ ngày 16/4 là ngày GDKHQ để CTCP Sản xuất và Thương Mại Nam Hoa (NHT) chốt danh sách cổ đông trả cổ tức đợt 2/2018 bằng cổ phiếu tỷ lệ 50%, tương ứng cổ đông sở hữu 100 cổ phiếu được nhận về 50 cổ phiếu mới. Giá đóng cửa ngày 12/4 của NHT là 69.8, giá sau điều chỉnh là 69.8/(1+50%) = 46.9 (Hình 1). So sánh “100 x 69.8 ” và “150 x 46.9” thì không khác nhau về giá trị trước và sau khi doanh nghiệp trả cổ tức bằng cổ phiếu đúng không? Tài sản của bạn sau khi chia vẫn vậy, không hề tăng lên.
Trường hợp: Chia cổ tức bằng tiền
Ví dụ trong tuần này, ngày 08/11/2019 tới là ngày GDKHQ để CTCP Đá Núi Nhỏ (NNC) chốt quyền trả cổ tức bằng tiền mặt với tỷ lệ lên đến 50%, tương đương 5.000 đồng/cp (Hình 2). Giả sử giá đóng cửa của NNC ngày 07/11 là 54, giá sau điều chỉnh sẽ là 54 – 5 = 49. Khi đó 1cp NNC cũ giá 54k thành 1cp NNC sau chia giá 49k và 5k tiền cổ tức. Cuối cùng, tổng tài sản của bạn cũng vẫn như vậy đúng không? Chưa kể bạn còn bị đánh thuế thu nhập 5% trên số tiền cổ tức mà bạn nhận được nữa nhé!
Đây là cách tính giá điều chỉnh của cổ phiếu trong ngày GDKHQ: P' (Hình 3)
Trong đó:
P: Giá hiện tại
P’: Giá ngày GDKHQ
Pα: Giá cổ phiếu phát hành thêm
α : Tỷ lệ cổ phiếu phát hành thêm
β : Tỷ lệ chia cổ phiếu thưởng (cổ tức bằng cổ phiếu)
C : Cổ tức bằng tiền
Như vậy, mỗi lần cổ phiếu được trả cổ tức là thị giá của nó lại giảm đi tương ứng với lượng cổ tức nhận được. Tóm lại, tài sản của bạn vẫn hoàn toàn giữ nguyên, không tăng cũng không giảm.
Bạn đã thực sự hiểu rõ về khoản cổ tức được nhận rồi chứ? Có thể thấy đây là một chiến lược không hiệu quả nếu bạn là nhà đầu tư ngắn hạn. Nhưng ở góc độ kinh doanh, tâm lý, đầu tư lâu dài, thì nó có vai trò nhất định. Nếu tiếp tục quan tâm đến chủ đề này thì mọi người đưa ra ý kiến nhé!
-Thắm Nguyễn-

Read More

[GÓC NHÌN CƠ BẢN] BÀI 5: ĐỪNG VỘI VÀNG KHI THẤY DOANH NGHIỆP CÔNG BỐ THÔNG TIN MUA LẠI CỔ PHIẾU QUỸ

tháng 11 12, 2019 0
[GÓC NHÌN CƠ BẢN]
BÀI 5: ĐỪNG VỘI VÀNG KHI THẤY DOANH NGHIỆP CÔNG BỐ THÔNG TIN MUA LẠI CỔ PHIẾU QUỸ
Hôm nay mình sẽ tiếp tục viết về chủ đề CỔ PHIẾU QUỸ. Như đã nói đã ở bài 4, DN mua lại cổ phiễu quỹ với 1 trong 3 mục đích chủ yếu sau: giảm lượng cung cổ phiếu để hỗ trợ thị giá; mua giá thấp bán giá cao để huy động vốn; tăng tỷ lệ cổ phiếu có quyền biểu quyết của cổ đông. Có thể thấy, những tác động tích cực của việc mua cổ phiếu quỹ là không cần bàn cãi. Vậy có phải khi nhận được thông tin DN mua lại cổ phiếu quỹ thì chúng ta sẽ hồ hởi mua theo? Đây có phải hoàn toàn là một tín hiệu tốt?...
Thực tế cho thấy không phải lúc nào doanh nghiệp công bố thông tin mua lại cổ phiếu quỹ là giá cổ phiếu đó cũng tăng. Chúng ta cần bình tĩnh xem xét lại, vậy lí do ở đây là gì?
Khi doanh nghiệp phát đi thông báo mua lại cổ phiếu quỹ thì NĐT, đặc biệt là NĐT nhỏ lẻ cần chú ý những trường hợp sau:
Xem Doanh nghiệp có đủ tiền hay không?
Mua cổ phiếu quỹ sẽ làm tốn một khoản tiền mặt không nhỏ của DN. Một câu hỏi đặt ra là: Nếu DN đang trong tình trạng thiếu vốn mà lại mua cổ phiếu quỹ thì có hợp lý hay không? Khi DN công bố thông tin mua cổ phiếu quỹ thì thường nói nguồn vốn thực hiện là từ lợi nhuận chưa phân phối hay thặng dư vốn,… nhưng trên thực tế, tiền mặt lại không có nhiều, thậm chí nhiều công ty còn đang phải vay vốn để kinh doanh. Như vậy, việc cố mua cổ phiếu quỹ trong lúc hoạt động kinh doanh không khả quan, tiền mặt không dư dả, thậm chí là đang gánh nợ thì sẽ có tác dụng ngược, có thể khiến cho dòng tiền càng ngày càng suy kiệt, tình hình tài chính càng trở nên căng thẳng và rủi ro hơn.
Ví dụ như trường hợp CTCP đầu tư dịch vụ Tài chính Hoàng Huy (TCH). Đến hết tháng 1/2018, công ty đã chi ra 220 tỷ đồng mua vào 9,7 triệu cổ phiếu làm cổ phiếu quỹ. Trong thời gian đăng ký và mua cổ phiếu quỹ, giá cổ phiếu cũng có một đợt tăng mạnh (Hình 1). Nhưng chỉ ngay sau đó vài tháng, TCH lại tiếp tục lên kế hoạch mua tiếp 20 triệu cổ phiếu quỹ (Hình 2). Nếu thực hiện thành công giao dịch này, ước tính TCH phải bỏ thêm 440 tỷ tiền mặt nữa, tổng cộng hai lần mua lại, TCH sẽ phải chi ra 660 tỷ đồng, lớn hơn khoản tiền và tương đương tiền trong BCTC tại thời điểm 31/12/2017 của công ty là 456 tỷ đồng (Hình 3). Có thể thấy, nếu việc mua cổ phiếu quỹ này được thực hiện như kế hoạch thì sẽ khiến doanh nghiệp mất đi khoản tiền đề phòng bù đắp cho việc đầu tư trung và dài hạn, rủi ro cũng có thể đến bất cứ lúc nào.
Xem xét số lượng cổ phiếu mua?
Trong trường hợp thị trường đang trong xu hướng giảm mạnh thì việc mua cổ phiếu quỹ với số lượng không đủ lớn sẽ không thể kìm được đà rớt giá. Điều này đồng nghĩa với việc mua cổ phiếu quỹ có thể gây thiệt hại cho chính doanh nghiệp, cũng như cho cổ đông.
Ví dụ như trường hợp của CTCP Tập đoàn Yeah1 (YEG). Kể từ ngày 1/3, giá cổ phiếu YEG đã có chuỗi phiên giảm sàn liên tiếp, lao đốc từ mức 249.800 đồng/cp sau sự cố liên quan đến Youtube, YEG đã hành động mua vào cổ phiếu để giải cứu. Tuy nhiên, động thái này cũng không giúp cổ phiếu YEG thoát cảnh dò đáy. (Hình 4)
Hình thức mua: Khớp lệnh hay thỏa thuận?
Trên những bản công bố thông tin đăng ký mua cổ phiếu quỹ, DN sẽ nói hình thức giao dịch khớp lệnh hay thỏa thuận. Mọi người cần lưu ý với hình thức giao dịch thỏa thuận thì không tạo lực cầu trực tiếp đẩy giá cồ phiếu lên, đôi khi đây chính là kẽ hở để các cá nhân lợi dụng. Khi một hay nhiều cổ đông lớn muốn thoái vốn trong lúc giá xuống, thanh khoản giảm thì việc tìm được một người mua thỏa thuận vài trăm nghìn cổ phiếu là rất khó. Nên họ đã lợi dụng tư cách công ty thực hiện mua lại chính lượng cổ phiếu của mình (đứng dưới tên của người khác). Kết quả là giá giao dịch trên sàn vẫn rơi và cổ đông nhỏ lẻ không được hưởng lợi.
Lịch sử quá khứ ban lãnh đạo như thế nào?
Ý của mình muốn nói ở đây là doanh nghiệp “nói một đằng, làm một nẻo”. Hãy thận trọng và cảnh giác trước những thông tin hoành tráng được công bố. Rất nhiều chủ doanh nghiệp chơi đòn gió, bẫy nhà đầu tư, thông báo mua cổ phiếu quỹ với khối lượng rất lớn và giá cao nhằm đẩy giá lên, nhưng rồi lại không mua hoặc mua rất ít, làm mất niềm tin của nhà đầu tư.
Trong quá khứ có GAS, IDI, ASM, HAG, NTL,… đều là các mã đăng ký mà không mua hết với rất nhiều lí do khác nhau. Có thể kể đến trường hợp CTCP Hoàng Anh Gia Lai (HAG) đăng ký mua lại 10 triệu CPQ (Hình 5) nhưng rồi sau đó lại hủy kế hoạch (Hình 6). Lý do HAG đưa ra là cần dồn tiền tập trung vào các dự án mới. Những doanh nghiệp cho cổ đông "ăn bánh vẽ” này chắc hẳn đã ít nhiều đánh mất uy tín trên thị trường.
Tóm lại, chúng ta hãy luôn đủ tỉnh táo, khi doanh nghiệp đưa ra thông tin mua cổ phiếu quỹ thì không nên vội vàng phản ứng bằng cách ngay lập tức mua vào, mà hãy ngồi lại đánh giá, phân tích khả năng tài chính của doanh nghiệp qua các tiêu chí như lượng tiền mặt doanh nghiệp đang có, nhu cầu vốn trong thời gian sắp tới cũng như tỉ lệ nợ vay của doanh nghiệp… để xem liệu DN có đủ tiềm lực tài chính để thực hiện hoạt động mua cổ phiếu quỹ này hay không?
-Thắm Nguyễn-
Read More

[GÓC NHÌN CƠ BẢN] BÀI 4: DOANH NGHIỆP MUA LẠI CỔ PHIẾU QUỸ VỚI MỤC ĐÍCH GÌ?

tháng 11 12, 2019 0
[GÓC NHÌN CƠ BẢN]
BÀI 4: DOANH NGHIỆP MUA LẠI CỔ PHIẾU QUỸ VỚI MỤC ĐÍCH GÌ?
Tỷ phú Warren Buffett là người đặc biệt ưa thích đầu tư vào những doanh nghiệp dùng tiền mặt để mua lại cổ phiếu quỹ. Vậy doanh nghiệp mua lại cổ phiếu quỹ với mục đích gì và hành động này sẽ làm ảnh hưởng như thế nào đến giá cổ phiếu mà bạn đang đầu tư? Hôm nay mình sẽ nói chi tiết hơn về vấn đề này!
Trước tiên, chúng ta cần phải biết cổ phiếu quỹ là gì?
Rất dễ hiểu, cổ phiếu quỹ chính là cổ phiếu do công ty cổ phần đã phát hành và được chính công ty mua lại.
Làm thế nào để biết giá trị cổ phiếu quỹ mà công ty đang nắm giữ? Nó được thể hiện trong mục Cổ phiếu quỹ trong BCĐKT (Hình 1).
Vậy doanh nghiệp mua lại cổ phiễu quỹ với mục đích gì?
Mục đích thứ nhất, giảm cung cổ phiếu để hỗ trợ thị giá.
Công ty dùng nguồn tiền mặt (chưa có mục đích sử dụng) để mua lại cổ phiếu làm cổ phiếu quỹ. Chính vì số lượng cổ phiếu quỹ này không được tính vào số cổ phiếu đang lưu hành nên hành động này sẽ giúp “cô đặc”, làm giảm lượng cổ phiếu đang lưu hành trên thị trường xuống, từ đó làm tăng hệ số thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS). Hệ số P/E và các chỉ tiêu sinh lời ROA, ROE... của doanh nghiệp cũng trở nên hấp dẫn hơn trong con mắt các nhà đầu tư. Đây là động cơ rất hay được các doanh nghiệp đề cập đến.
Ví dụ như gần đây nhất là Công ty Cổ phần Vĩnh Hoàn (VHC) đã công bố thông tin về việc mua cổ phiếu quỹ (Hình 2). Theo đó, Vĩnh Hoàn dự kiến mua vào tối đa 2 triệu cổ phiếu làm cổ phiếu quỹ. Nguyên nhân được công ty thông báo là do thị giá cổ phiếu VHC đang ở mức thấp và không phản ánh đúng giá trị của công ty. Đồng thời, công ty cũng đang có nguồn vốn giữ lại và thặng dư vốn cổ phần lớn. Vì vậy Vĩnh Hoàn quyết định mua lại cổ phiếu làm cổ phiếu quỹ nhằm giảm lượng cổ phiếu đang lưu hành, hỗ trợ giao dịch, gia tăng giá trị cho cổ đông.
Thứ hai, mua giá thấp bán giá cao để huy động vốn.
Với nhiều doanh nghiệp, mua lại cổ phiếu được xem là chiến lược đầu tư tối ưu khi có nguồn tiền thặng dư mà chưa tìm kiếm được cơ hội kinh doanh phù hợp. Thay vì gửi tiết kiệm hưởng lãi suất ngân hàng, hay đầu tư tài chính vào DN khác …thì việc lựa chọn mua cổ phiếu của chính DN là một giải pháp an toàn vì ban lãnh đạo đã hiểu rõ mô hình kinh doanh, thấy giá cổ phiếu của công ty đang giao dịch dưới giá trị thực và nhìn ra tiềm năng tăng trưởng. Lúc này doanh nghiệp có thể mua lại cổ phiếu ở mức giá thấp, đợi đến khi giá lên cao hơn thì bán số cổ phiếu quỹ này ra, qua đó huy động thêm được vốn hoạt động. Bên cạnh đó, cũng hạn chế tình trạng pha loãng cổ phiếu như khi phát hành mới.
Ví dụ: Đại gia nắm giữ khối cổ phiếu quỹ lớn nhất phải kể đến CTCP Tập đoàn Masan (MSN). Trong thời gian từ 16/10 đến 14/11/2017 MSN đã mua 100.665.722 cổ phiếu, nâng tổng số cổ phiếu quỹ nắm giữ từ hơn 9,23 triệu đơn vị lên gần 109,9 triệu cổ phiếu với tổng giá trị sổ sách 6.518 tỷ đồng, tương đương với giá vốn trung bình 59.000 đồng/cp (Hình 3). Sau khi mua lại với “giá rẻ”, MSN tiến hành bán lượng cổ phiếu này với giá rất cao cho SK Group vào ngày 02/10/2018 tại mức giá 100.000 đồng/cp thu về gần 11.000 tỷ đồng (Hình 4). Thương vụ “mua đi bán lại” này đã mang lại cho MSN một số tiền rất lớn.
Thứ ba, với mục đích tăng tỷ lệ biểu quyết.
Vì cổ phiếu quỹ không có quyền biểu quyết nên việc mua cổ phiếu quỹ làm giảm số lượng cổ phiếu đang lưu hành có quyền biểu quyết và vô hình chung làm cho các cổ đông còn lại tăng tỷ lệ biểu quyết lên mặc dù tỷ lệ sở hữu của họ vẫn thế. Trong quá khứ, có rất nhiều trường hợp nhóm chủ công ty niêm yết tăng quyền kiểm soát công ty bằng cách cho công ty đó mua cổ phiếu quỹ thay vì nhóm chủ tự đứng ra mua thâu tóm cổ phiếu trên sàn.
Trường hợp của Công ty Cổ phần Vicostone (VCS) có lẽ là trường hợp điển hình nhất. Câu chuyện này mình cũng đã nhắc đến trong bài viết trước. Sau nhiều năm lùm xùm xung đột giữa các nhóm cổ đông, tháng 6/2014, cổ đông nước ngoài rút hết vốn tại Vicostone và chuyển nhượng lại cho Tập đoàn Phượng Hoàng Xanh A&A (Phenikaa) – tập đoàn sau đó lại bị “thâu tóm” bởi chính người của Vicostone - Chủ tịch Hồ Xuân Năng. Sau khi Phenikaa hoàn tất nâng sở hữu lên 58%, Vicostone đã tiến hành mua lại 20% lượng cổ phiếu đang lưu hành làm cổ phiếu quỹ, qua đó gián tiếp làm tăng tỷ lệ biểu quyết của Phenikaa lên 72,5%, đủ quyền quyết định toàn bộ vấn đề tại Vicostone.
Vậy có phải khi nhận được thông tin DN mua lại cổ phiếu quỹ thì chúng ta sẽ hồ hởi mua theo. Đây có phải hoàn toàn là một tín hiệu tốt?... Chúng ta cần bình tĩnh xem xét lại. Thực tế cho thấy không phải lúc nào có thông tin doanh nghiệp mua cổ phiếu quỹ là giá cổ phiếu của công ty đó sẽ tăng . Lí do ở đây là gì? Mọi người đón đọc ở bài viết sau nhé!
-Thắm Nguyễn-
Read More

[GÓC NHÌN CƠ BẢN] BÀI 3: BẠN ĐÃ THỰC SỰ HIỂU RÕ VỀ CHỈ SỐ ROS?

tháng 11 12, 2019 0
[GÓC NHÌN CƠ BẢN]
BÀI 3: BẠN ĐÃ THỰC SỰ HIỂU RÕ VỀ CHỈ SỐ ROS?
Làm thế nào để chúng ta biết đâu là doanh nghiệp có kết quả kinh doanh tốt để đầu tư? BCTC sẽ cung cấp cho chúng ta những con số đó. Nhưng những con số như tổng doanh thu, chi phí, thu nhập thì chưa thể cung cấp một bức tranh rõ ràng và thực tế về lợi nhuận và hiệu suất của một doanh nghiệp đúng không? Có một cách định lượng để biết được hiệu suất của doanh nghiệp đó là tính toán tỷ suất lợi nhuận. Vậy tỷ suất lợi nhuận là gì? Gồm những chỉ số nào? Đó là ROA, ROE, ROS. Đây là một trong những bộ chỉ số cơ bản trong phân tích báo cáo tài chính mà bạn cần phải biết, nó được dùng để đánh giá hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Hôm nay mình sẽ nói về chỉ số ROS trước. Hi vọng qua bài viết này mọi người sẽ hiểu chỉ số ROS là gì? Cách tính và ý nghĩa?
Trước tiên, mình sẽ lấy ví dụ về con VCS tăng nóng trở lại thời gian vừa qua cho chỉ số ROS này.
Hình 1 thể hiện chỉ số ROS của VCS qua các năm. Mọi người có thể thấy chỉ số ROS tăng rất mạnh giai đoạn 2013- 2016. Mình giải thích 1 chút: Năm 2013 (5,14%) nghĩa là lợi nhuận/doanh thu của VCS là 5,14% tức là cứ 100đ bán ra thì có 5,14đ là lợi nhuận ròng thu về công ty; Năm 2014 (12.7%) nghĩa là lợi nhuận/doanh thu của VCS là 12,7% tức là cứ 100đ bán ra, thì có 12,7% là lợi nhuận ròng thu về công ty. Tương tự các năm sau cũng như vậy. Tuy nhiên, sang năm 2017 là gần như đi ngang, và tiếp tục tăng vào năm 2018. Nhìn sang chart của VCS 1 chút, thật trùng hợp giá cổ phiếu VCS tăng phi mã từ đầu năm 2014 và đạt đỉnh vào đầu năm 2018. Câu chuyện ở đây là gì?
Giai đoạn 2012-2013, cùng với việc lợi nhuận giảm, giá cổ phiếu VCS cũng kém tích cực do những mâu thuẫn giữa ban lãnh đạo công ty và cổ đông ngoại Red River Holding. Mối bất hòa kéo dài tới tận tháng 6/2014, cho đến khi Red River Holding chấp nhận “ra đi”, đồng thời là cú thâu tóm của ông Hồ Xuân Năng qua công ty con Tập đoàn Phượng Hoàng Xanh A&A (sở hữu hơn 81% cổ phần VCS). Sau khi ổn định cơ cấu cổ đông, hoạt động kinh doanh của VCS về đúng bản chất của nó. Có thể thấy trong giai đoạn từ năm 2013-2018, VCS liên tiếp gây ngạc nhiên về sự tăng trưởng mạnh mẽ kết quả kinh doanh của mình (Hình 2). Đúng là chỉ có tăng trưởng từ kết quả kinh doanh cốt lõi mới giúp giá cổ phiếu tăng trưởng một cách bền vững. Và một doanh nghiệp muốn bền vững thì nên duy trì tỷ số ROS ổn định và gia tăng theo thời gian, sẽ rất tốt nếu 3-5 năm chỉ số này luôn ổn định và tăng theo các năm. Những khoản lợi nhuận bất thường như lợi nhuận từ hoạt động tài chính, lãi do bán tài sản,.. thường chỉ tác động nhất thời, không giúp giá cổ phiếu có thể đi lên bền bỉ được. Chính vì vậy, khi đầu tư chứng khoán, các bạn hãy tìm kiếm những doanh nghiệp tốt và có tiềm năng tăng trưởng mạnh mẽ từ kinh doanh chính trong tương lai. Và bây giờ chúng ta cùng tìm hiểu để có cái nhìn toàn diện hơn về chỉ số này nhé!
Chỉ số ROS là gì?
ROS là viết tắt của Return On Sales được hiểu là tỷ số lợi nhuận trên doanh thu hay biên lợi nhuận sau thuế. Chỉ số này phản ánh nếu doanh nghiệp thu được 100 đồng doanh thu thì sẽ thu về bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.
Cách tính chỉ số ROS như thế nào?
Tỷ số lợi nhuận trên doanh thu (ROS) ở 1 kỳ nhất định (tháng, quý, năm) được tính bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế trong kỳ chia cho doanh thu trong kỳ đó (Đơn vị tính là %).
Hệ số ROS = Lợi nhuận sau thuế/Doanh thu thuần
Vậy chỉ số ROS có ý nghĩa gì?
- Nó chỉ ra mối quan hệ giữa DOANH THU và LỢI NHUẬN, đây là 2 yếu tố liên quan rất mật thiết. Doanh thu chỉ ra vai trò, vị trí doanh nghiệp trên thương trường còn Lợi nhuận thể hiện chất lượng, hiệu quả cuối cùng của doanh nghiệp. Tổng mức doanh thu, tổng mức lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu càng lớn thì vai trò, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp càng tốt hơn.
- Những doanh nghiệp có biên lợi nhuận cao chứng tỏ doanh nghiệp đó có lợi thế cạnh tranh nhất định so với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành (có thể là do kiểm soát chi phí tốt hơn hoặc có giá bán cao hơn mặt bằng chung của thị trường). Ngược lại, những doanh nghiệp có biên lợi nhuận thấp thường là những doanh nghiệp ít có lợi thế cạnh tranh so với ngành hoặc là doanh nghiệp hoạt động trong ngành thương mại như MWG, DGW,… Như vậy, việc theo dõi biên lợi nhuận theo thời gian sẽ giúp nhà đầu tư dự đoán được phần nào tình hình của doanh nghiệp trong tương lai:
+ Nếu chỉ số ROS tăng cho thấy công ty đang phát triển một cách hiệu quả, tỷ suất sinh lời ngày một tốt hơn.
+ Ngược lại, nếu chỉ số ROS giảm báo hiệu công ty đang bị cạnh tranh hoặc chu kỳ ngành đang đi xuống.
Điều này cho thấy nếu công ty biết kiểm soát tốt chi phí sẽ tạo ra nhiều lợi nhuận.
 Tất nhiên, việc sử dụng chỉ số này cũng chỉ là một phần nhỏ trong phân tích cơ bản để nhận định được mã cổ phiếu nào tốt, mã cổ phiếu nào không tốt. Và chúng ta cần kết hợp thêm các chỉ số khác nữa, mình sẽ chia sẻ ở những bài viết sau. Mọi người có quan tâm đến chỉ số nào thì có thể cmt nhé! Hi vọng thông qua bài viết này mọi người sẽ hiểu rõ hơn về chỉ số ROS này.
Read More

[GÓC NHÌN CƠ BẢN] BÀI 2: NỢ CAO CHƯA CHẮC ĐÃ XẤU???

tháng 11 12, 2019 0
[GÓC NHÌN CƠ BẢN]
BÀI 2: NỢ CAO CHƯA CHẮC ĐÃ XẤU???
Các doanh nghiệp vay nợ ở mức độ nào được coi là chấp nhận được? Như ở bài viết trước mình đã nói, thông thường thì ở mức 60/40. Tuy nhiên, đừng vội vàng khi tính ra hệ số nợ quá cao mà bỏ qua những bước này, bạn sẽ bị lỡ đi những cơ hội tốt đó. Bây giờ mình sẽ phân tích cụ thể hơn nhé!
1. ĐÒN BẨY CAO NHƯNG CHỦ YẾU LÀ NỢ CHIẾM DỤNG VỐN BÊN THỨ 3
Khi nói đến nợ, trong đầu mọi người nghĩ ngay đến nợ là sẽ đi vay và phải trả lãi theo kỳ. Tuy nhiên, ở một góc nhìn khác, nếu như các khoản nợ trên là nợ chiếm dụng từ các nguồn khác (doanh nghiệp không mất chi phí sử dụng vốn) thì sao? Là TỐT đúng không? Vậy các khoản mục này nằm ở đâu trong tổng nợ?
ĐÓ là phải trả người bán, người mua trả tiền trước, phải trả người lao động, thuế và các khoản phải nộp Nhà Nước… Dưới đây, mình sẽ giải thích rõ hơn các loại hình chiếm dụng vốn mà các doanh nghiệp thường hay sử dụng này:
 Chiếm dụng vốn của khách hàng
Chiếm dụng vốn của khách hàng là doanh nghiệp có thể nhận tiền ứng trước hay tiền đặt cọc của khách hàng và số tiền này sẽ được ghi tương ứng khoản mục người mua trả tiền trước trong báo cáo tài chính. Người mua trả tiền trước không những giảm rủi ro trong việc thu tiền từ người mua mà còn cho doanh nghiệp một lượng tiền ngay để có thể sử dụng vào việc sản xuất. Thông thường những DN BĐS sẽ có khoản người mua trả tiền trước chiếm tỷ trọng lớn vì đây chính là các khoản đặt cọc của khách hàng. Nếu bạn phân tích một DN BĐS thì chắc chắn bạn sẽ phải đánh giá khoản mục này.
 Chiếm dụng vốn của nhà cung cấp
Chiếm dụng vốn của nhà cung cấp cũng là một hình thức được nhiều doanh nghiệp sử dụng thông qua nợ tiền hàng của nhà cung cấp. Số tiền chiếm dụng này sẽ được ghi tương ứng khoản mục phải trả người bán trong báo cáo tài chính. Những doanh nghiệp thương mại thường có khoản mục này chiếm tỷ trọng lớn (VD: MWG, DGW,…)
 Chiếm dụng vốn của Nhà nước
Doanh nghiệp chiếm dụng vốn của nhà nước thông qua việc chậm nộp các khoản thuế và các khoản lệ phí phải nộp khác, được ghi nhận trong khoản mục Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước.
 Chiếm dụng vốn của người lao động: Đây chính là các khoản nợ lương, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội và các khoản phải trả khác thuộc về thu nhập của người lao động, được ghi nhận trong khoản phải trả người lao động.
Tất nhiên, doanh nghiệp không thể coi đây là những nguồn vốn huy động chính nhưng khi sử dụng khoản vốn này công ty sẽ KHÔNG phải trả chi phí sử dụng như mình đã nói ở trên. Và cũng không vì thế mà công ty có thể lạm dụng nó vì đây là nguồn vốn mà doanh nghiệp chỉ có thể chiếm dụng tạm thời. Tùy từng nguồn mà việc sử dụng sẽ có mức độ rủi ro khác nhau. Ví dụ như việc chiếm dụng vốn từ nhà cung cấp với tần suất chiếm dụng mà quá nhiều thì dễ gây mất uy tín của doanh nghiệp hay với các khoản thuế trả chậm thì cũng dễ nhận phải những hình phạt từ phía chính quyền. Và chúng ta cũng cần lưu ý những khoản này mà có dấu hiệu phình to quá lớn và trong khoảng thời gian dài thì đó là điều thực sự cần phải xem xét.
Ví dụ cụ thể cho trường hợp chiếm dụng vốn của khách hàng mình sẽ sử dụng báo cáo tài chính quý 3/2019 của NDN làm mẫu:
Trước tiên ta tính hệ số sợ của NDN cũng lên đến 70%, đây là mức khá cao. Tiếp theo chúng ta cùng nhìn vào các khoản mục con nhé. Nợ ngắn hạn chiếm 98% tổng nợ phải trả, trong đó phần lớn lại là Tiền trả trước của khách hàng, ta có thể nhìn thấy trên BCTC con số gần 1 tỷ 376tr (Hình 1) chủ yếu đến từ Dự án Monarchy Block B. Đây chính là khoản chiếm dụng FREE của khách hàng, nhìn sang phần tài sản thì có thể NDN để số tiền này dưới dạng đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn (Hình 2), tính ra phần lợi nhuận từ lãi vay 1 năm cho khoản này với lãi suất gửi ngân hàng hiện nay cũng tầm 60-70 tỷ. Tính toán một chút, lợi nhuận từ HĐTC quý 3/2019 của NDN lên đến gần 18tỷ710tr, trong đó LNTT là 19tỷ754tr. Có thể thấy quý này nguồn thu lớn của NDN là đến từ HĐTC.
2. ĐÒN BẨY CAO NHƯNG LẠI ĐƯỢC ƯU ĐÃI VỀ LÃI SUẤT VAY
Vốn vay là nguốn vốn có áp lực trả nợ rất lớn tuy nhiên việc đi vay với mục đích sử dụng đúng đắn, có kế hoạch trả nợ hợp lý cùng với khả năng thanh toán tốt sẽ đảm bảo an toàn cho doanh nghiệp. Ví dụ, khi đầu tư vào tài sản cố định, các doanh nghiệp thường sử dụng nguồn vay dài hạn và cố gắng thương lượng với lãi suất thấp. Và đặc biệt những doanh nghiệp được hưởng lãi suất ưu đãi thì khoản mục này chúng ta có thể yên tâm hơn.

Ví dụ cho trường hợp này: mình sẽ xem tình hình vay vốn của BDT. Trong phần vay và nợ thuê tài chính, có phần nguồn vốn vay của quỹ đầu tư phát triển tỉnh Đồng Tháp với lãi suất vay 0% (Hình 3). Không phải doanh nghiệp nào cũng được vay với mức lãi suất hấp dẫn như vậy, nhưng nếu thuộc đối tượng ưu tiên thì đây là khoản vay cực kỳ hấp dẫn. Doanh nghiệp sẽ không phải chịu gánh nặng chi phí tài chính trong thời gian vay vốn. Và để nắm rõ thông tin lãi suất những khoản vay này thì mọi người chú ý trong phần thuyết minh báo cáo tài chính.
3. ĐÒN BẨY CAO NHƯNG LẠI DO ĐẶC THÙ NGÀNH
- Mình cũng lưu ý với mọi người thêm, khi so sánh hệ số nợ thì cần phải so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành. Với một số trường hợp đặc biệt, khi phân tích các doanh nghiệp đặc thù trong lĩnh vực ngân hàng, các công ty tài chính hay các doanh nghiệp BĐS Khu công nghiệp thì hệ số nợ của nó cũng phải cao hơn, chúng ta không thể đánh đồng với doanh nghiệp sản xuất được.
Tóm lại, việc nhìn sâu hơn vào các khoản mục sẽ giúp chúng ta bớt có cái nhìn phiến diện về nợ phải trả của công ty. Từ đó có thể đưa ra đánh giá mang tính khách quan hơn đúng không nào?
Mọi người có muốn mình chia sẻ tiếp những dạng bài về phân tích tài chính thế này nữa không? )
Read More

Post Top Ad